Phụ nữ dân tộc thiểu số – Tieudungonline.com https://tieudungonline.com Cổng thông tin mua sắm trực tuyến hàng đầu Việt Nam Wed, 24 Sep 2025 14:09:34 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.7.2 https://cloud.linh.pro/news/2025/08/tieudung.svg Phụ nữ dân tộc thiểu số – Tieudungonline.com https://tieudungonline.com 32 32 Mở lớp học xóa mù chữ cho phụ nữ dân tộc thiểu số ở vùng cao https://tieudungonline.com/mo-lop-hoc-xoa-mu-chu-cho-phu-nu-dan-toc-thieu-so-o-vung-cao/ Wed, 24 Sep 2025 14:09:32 +0000 https://tieudungonline.com/mo-lop-hoc-xoa-mu-chu-cho-phu-nu-dan-toc-thieu-so-o-vung-cao/

Ở các xã vùng cao như Bao La, Tân Pheo, Đà Bắc, những lớp học đặc biệt được tổ chức sau mỗi mùa gặt, thu hút sự tham gia của vài chục phụ nữ dân tộc Mường, Dao, Thái. Họ cùng nhau ngồi lắng nghe giảng viên dạy từng nét chữ đầu tiên.

Đây là những lớp học thuộc chương trình “giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ”, do Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hòa Bình phối hợp tổ chức, nhằm mục đích xóa mù chữ và nâng cao năng lực học tập cho cộng đồng. Từ năm 2020 đến nay, đã có 6 lớp học như vậy được mở, với 125 học viên, 100% là nữ và thuộc dân tộc thiểu số. Họ đến lớp không phải để追求 điểm số hay bằng cấp, mà vì một mục đích giản dị: biết đọc tên mình, biết viết đơn xin vay vốn, hiểu những dòng chữ in trên bao thuốc trừ sâu hay đơn khám bệnh.

Bà Hà Thị Nhung, 50 tuổi, người dân tộc Thái ở xã Bao La, đã bắt đầu hành trình học chữ của mình. Trước đây, mỗi lần đi trạm y tế hay nhận hỗ trợ, bà đều phải nhờ người khác điền giúp giấy tờ. Có khi, cán bộ bảo ký tên, bà chỉ biết cười trừ, đưa ngón tay ra lăn dấu. “Tôi xấu hổ lắm. Đến tên mình cũng không viết nổi”, bà Nhung chia sẻ.

Cuộc sống của bà Nhung và nhiều phụ nữ khác đã thay đổi khi Trung tâm học tập cộng đồng xã Bao La mở lớp học sau biết chữ vào buổi tối, sau khi người dân đã thu hoạch xong mùa vụ. Lớp học nhỏ, chỉ có một chiếc bàn gỗ dài và những cuốn vở đã ngả màu theo tay học viên. Nhưng với bà Nhung, đó là thế giới khác – nơi bà bắt đầu nhận diện lại chính mình qua từng con chữ.

Tính đến nay, các xã khu vực Hòa Bình cũ đã đạt tỷ lệ nữ biết chữ là 99,81%, trong đó nữ dân tộc thiểu số và miền núi đạt 99,64% – vượt xa mục tiêu 93% được đặt ra trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030. Đây không chỉ là một thành tích trong lĩnh vực giáo dục mà còn là kết quả của quá trình kiên trì xóa mù chữ, giáo dục tiếp tục sau biết chữ và xây dựng mô hình học tập cộng đồng bền vững.

Tuy nhiên, biết chữ không đơn thuần là đích đến mà là điểm khởi đầu cho một hành trình dài hơi – hành trình trao quyền, xây dựng năng lực tự chủ cho người phụ nữ. “Khi người phụ nữ biết đọc, biết viết, họ có thể tiếp cận thông tin, hiểu quyền lợi, chủ động trong kinh tế gia đình và chăm sóc con cái. Quan trọng hơn, họ trở thành người truyền cảm hứng học tập trong bản làng, nơi mà việc cầm bút, đi học với phụ nữ từng là điều xa lạ, thậm chí bị cho là ‘không cần thiết'”, ông Trần Văn An – Trưởng Phòng Giáo dục thường xuyên, Sở Giáo dục và Đào tạo chia sẻ.

Dù kết quả đạt được rất đáng ghi nhận, nhưng thực tế ở các xã vùng cao vẫn đặt ra không ít thách thức. Ở một số địa bàn đặc biệt khó khăn, việc duy trì kết quả sau xóa mù chữ chưa thật sự ổn định. Nhiều phụ nữ lớn tuổi quanh năm bám nương, ít có điều kiện tiếp cận thông tin vẫn đang đối mặt nguy cơ tái mù.

Những bước đi căn cơ đang dần được triển khai để đảm bảo “biết chữ” không chỉ là thành tích mà phải là nền móng cho sự phát triển. Từ năm 2025, Trường Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình được giao nhiệm vụ đưa các nội dung về giới, bình đẳng giới và sức khỏe sinh sản vào chương trình đào tạo giáo viên. Cùng với đó, các trung tâm học tập cộng đồng ở cơ sở cũng đang được mở rộng vai trò. Từ chỗ chỉ dạy chữ sang hướng dẫn kỹ năng sản xuất, sử dụng công nghệ số, khởi nghiệp tại chỗ…

Đây là bước đi cho thấy chương trình xoá mù, nâng cao năng lực cộng đồng không chỉ truyền đạt con chữ, mà còn giúp thay đổi tư duy, cách nghĩ, cách làm của đồng bào dân tộc thiểu số. Mỗi người phụ nữ biết chữ, dù chỉ một câu, một dòng, cũng đang viết nên phần tương lai tươi sáng hơn của chính mình.

]]>
Gần 7.000 bà mẹ dân tộc thiểu số được hỗ trợ sinh đẻ an toàn https://tieudungonline.com/gan-7-000-ba-me-dan-toc-thieu-so-duoc-ho-tro-sinh-de-an-toan/ Sat, 23 Aug 2025 17:25:30 +0000 https://tieudungonline.com/gan-7-000-ba-me-dan-toc-thieu-so-duoc-ho-tro-sinh-de-an-toan/

Một dự án hỗ trợ phụ nữ dân tộc thiểu số (DTTS) sinh đẻ an toàn và chăm sóc sức khỏe trẻ em đang được triển khai mạnh mẽ tại 10 tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Dự án này là một phần quan trọng của Dự án 8 thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030.

Chị em phụ nữ DTTS ở Hà Giang được tập huấn kiến thức làm mẹ an toàn và chăm sóc sức khỏe trẻ em
Chị em phụ nữ DTTS ở Hà Giang được tập huấn kiến thức làm mẹ an toàn và chăm sóc sức khỏe trẻ em

Mục tiêu chính của dự án là giảm tỷ lệ sinh con tại nhà, đặc biệt là ở những vùng có đông người DTTS và có tỷ lệ sinh con tại nhà cao hơn mức trung bình của cả nước. Dựa trên kết quả Điều tra thực trạng kinh tế xã hội 53 DTTS Việt Nam năm 2019 của Tổng cục Thống kê, các tỉnh gồm Gia Lai, Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên là những địa bàn có tỷ lệ sinh con tại nhà cao.

Để đạt được mục tiêu này, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam đã đề xuất bổ sung đầy đủ gói chính sách hỗ trợ chế độ cho bà mẹ đi khám thai trong Thông tư 55/2023/TT-BTC. Đồng thời, hội cũng đề xuất hỗ trợ gói vật tư chăm sóc khi sinh đối với trường hợp bà mẹ sinh từ 2 bé trở lên.

Để triển khai dự án, Hội LHPN các cấp đã phối hợp với ngành Y tế cùng cấp triển khai 4 gói hỗ trợ, bao gồm hỗ trợ chế độ cho bà mẹ đi khám thai, hỗ trợ vật tư chăm sóc khi sinh, hỗ trợ sinh đẻ an toàn và chăm sóc sức khỏe trẻ em. Tính đến nay, các tỉnh đã chi trả chế độ hỗ trợ cho gần 7.000 bà mẹ với tổng kinh phí hỗ trợ khoảng 9 tỷ đồng.

Đáng chú ý, 5 trong 10 tỉnh đã đạt và vượt chỉ tiêu 80% phụ nữ thuộc nhóm dân tộc có tỷ lệ sinh con tại nhà cao được tuyên truyền, vận động, tư vấn kiến thức và tiếp cận với dịch vụ sinh đẻ an toàn. Hội LHPN Việt Nam cũng đã tổ chức 8 chuỗi sự kiện truyền thông vận động phụ nữ sinh đẻ an toàn và chăm sóc sức khỏe trẻ em tại 8 tỉnh có tỷ lệ sinh con tại nhà cao.

Dự án này không chỉ giúp giảm tỷ lệ sinh con tại nhà mà còn nâng cao kiến thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ DTTS, góp phần cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại các vùng khó khăn. Thông qua dự án, phụ nữ DTTS có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ y tế tốt hơn, giảm thiểu rủi ro trong quá trình sinh đẻ và chăm sóc trẻ em.

Hội LHPN Việt Nam đang tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng để triển khai dự án hiệu quả, đảm bảo các mục tiêu đề ra. Dự án cũng kêu gọi sự tham gia của cộng đồng, đặc biệt là các tổ chức xã hội, để cùng nhau hỗ trợ phụ nữ DTTS.

Dự án hỗ trợ phụ nữ DTTS sinh đẻ an toàn và chăm sóc sức khỏe trẻ em đang mang lại những kết quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho phụ nữ và trẻ em tại các vùng khó khăn. Với sự hỗ trợ từ các bên liên quan, dự án sẽ tiếp tục được triển khai rộng rãi, mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng DTTS.

]]>
Chị Út Tịch – Biểu tượng bất tử của người phụ nữ Nam bộ https://tieudungonline.com/chi-ut-tich-bieu-tuong-bat-tu-cua-nguoi-phu-nu-nam-bo/ Sun, 10 Aug 2025 17:13:02 +0000 https://tieudungonline.com/chi-ut-tich-bieu-tuong-bat-tu-cua-nguoi-phu-nu-nam-bo/

Chị Út Tịch – Biểu tượng bất tử của người phụ nữ vùng dân tộc thiểu số Nam bộ

Chị Út Tịch, tên thật là Nguyễn Thị Út, sinh năm 1931 tại Tam Ngãi, Vĩnh Long, đã trở thành một biểu tượng bất tử của người phụ nữ vùng dân tộc thiểu số ở Nam bộ trong cuộc chiến tranh giữ nước và dựng nước. Cuộc đời của chị là một bản anh hùng ca về lòng yêu nước, sự kiên trung và hy sinh cao cả.

Chị Út Tịch mồ côi mẹ từ nhỏ, từng bán chè, gánh nước, mót lúa để sinh nhai. Lấy chồng sớm, có 6 người con, chị là điển hình của mẫu người phụ nữ ‘không thích nói nhiều, đã nói là làm, làm bằng được, làm tới chết’. Chồng chị, ông Lâm Văn Tịch, là người dân tộc Khmer, cũng là cán bộ cách mạng hoạt động bí mật. Sau khi ông Tịch bị địch sát hại, chị quyết định bồng con lên rừng, xin vào đội du kích.

Với hành trang đơn sơ, chị Út Tịch đã chiến đấu qua muôn vàn gian khổ, không rời hàng ngũ dù có người khuyên chị nên về chăm sóc các con nhỏ. Chị không phải là người phụ nữ đầu tiên ra chiến trận, cũng không phải người duy nhất hy sinh, nhưng trong chị có đủ đầy cả tình mẹ, tình vợ, tình dân, tình đồng đội và tình yêu Tổ quốc.

Khi chị ngã xuống ở trận đánh năm 1968, con gái út của chị mới lên 3. Không có lễ tang rầm rộ, không kèn trống, không huy chương, nhưng hàng nghìn phụ nữ miền Tây đã khóc chị.

Chị Út Tịch không chỉ là một biểu tượng cách mạng mà còn là một hình bóng máu thịt trong đời sống của bà con miền Tây. Tượng đài chị Út Tịch được đúc bằng đồng, đặt tại Tam Ngãi, Vĩnh Long, là minh chứng cho sự kính trọng và biết ơn của người dân.

Ngày nay, vẫn có nhiều người phụ nữ tiếp nối bước chân chị Út Tịch, không mang súng ra trận nhưng không lùi bước trước những thử thách mới của thời bình. Họ là những người phụ nữ dân tộc thiểu số, từng bước vươn lên từ vùng căn cứ cách mạng, như chị Thạch Thị Thu Hà, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Vĩnh Long, hay chị Nguyễn Thị Nhiền, Chủ tịch UBND xã Phong Thạnh.

Họ đã chứng minh rằng phụ nữ vùng căn cứ không phải là điểm yếu mà là điểm tựa để giữ Đảng, giữ nước và giữ niềm tin nhân dân. Trong thời đại hiện nay, với những thách thức mới, cần có chiến lược hỗ trợ những ‘Út Tịch thời bình’ để họ có thể phát triển và vươn lên.

Cụ thể, cần thiết lập Chương trình hành động quốc gia ‘Phụ nữ vùng căn cứ phát triển bền vững giai đoạn 2025-2035’, thành lập Quỹ ‘Ngọn lửa Út Tịch’ hỗ trợ phụ nữ vượt khó ở vùng đặc biệt khó khăn, bổ sung vào giáo trình và truyền thông đại chúng các hình tượng phụ nữ cách mạng tiêu biểu, và tổ chức hội thảo cấp quốc gia về ‘Phụ nữ vùng căn cứ – Từ lịch sử đến chính sách’.

]]>